Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng Công an cấp xã trong lĩnh vực bảo vệ bí mật nhà nước
Bảo vệ bí mật nhà nước là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, gắn trực tiếp với bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức và giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trước yêu cầu tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước ngay từ cơ sở, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ đã quy định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng Công an cấp xã đối với nhiều hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ bí mật nhà nước. Đây là nội dung quan trọng, tạo điều kiện để lực lượng Công an chủ động phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm ngay từ cơ sở.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, hoạt động trao đổi, lưu trữ và xử lý thông tin trên môi trường điện tử ngày càng phổ biến, yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước đặt ra ngày càng cao. Chỉ một sơ suất nhỏ trong quản lý tài liệu, sử dụng thiết bị điện tử, trao đổi thông tin hoặc chấp hành quy trình nghiệp vụ cũng có thể dẫn đến nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức.
Thực tiễn công tác bảo vệ an ninh thời gian qua cho thấy, nhiều vụ việc lộ, mất bí mật nhà nước không xuất phát từ hoạt động xâm nhập tinh vi của các đối tượng mà bắt nguồn từ sự chủ quan, thiếu ý thức chấp hành quy định pháp luật của người trực tiếp quản lý, sử dụng bí mật nhà nước; vì vậy, việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm ngay từ cơ sở có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình. Nghị định không chỉ quy định cụ thể các hành vi vi phạm mà còn hoàn thiện hệ thống thẩm quyền xử phạt của các chức danh trong lực lượng Công an nhân dân phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Nhiều hành vi vi phạm về bảo vệ bí mật nhà nước sẽ bị xử lý nghiêm
Điều 22 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định đầy đủ các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ bí mật nhà nước, bao quát toàn bộ quá trình soạn thảo, quản lý, sử dụng, lưu giữ, cung cấp, chuyển giao, vận chuyển, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước cũng như việc bảo đảm an toàn bí mật nhà nước trên môi trường mạng.
Các hành vi như không thực hiện đúng quy định về quản lý tài liệu bí mật nhà nước; sao, chụp, giao nhận, lưu giữ, vận chuyển không đúng quy định; xác định hoặc đóng dấu độ mật không đúng; mang tài liệu bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ trái quy định; không thực hiện các biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước trên thiết bị điện tử; cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước không đúng đối tượng; đăng tải hoặc phát tán bí mật nhà nước trên môi trường mạng... các hành vi trên đều bị xử phạt với các mức tiền phạt tương ứng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.
Ngoài hình thức phạt tiền, tùy từng hành vi, người vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung hoặc buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước, tang vật, phương tiện liên quan; gỡ bỏ thông tin đã đăng tải; khôi phục tình trạng ban đầu hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Thẩm quyền xử lý vi phạm của Công an cấp xã
Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định là quy định rõ thẩm quyền xử phạt của Trưởng Công an cấp xã. Theo khoản 4 Điều 55 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, Trưởng Công an cấp xã được quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định. Như vậy, phần lớn các hành vi vi phạm về bảo vệ bí mật nhà nước tại Điều của 22 Nghị định đều thuộc phạm vi mà Trưởng Công an cấp xã có thể xem xét, xử lý theo thẩm quyền:
“Điều 22. Vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Không ban hành quy chế, nội quy bảo vệ bí mật nhà nước trong cơ quan, tổ chức, địa phương theo quy định của pháp luật;
b) Sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật;
c) Không thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật;
d) Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác mà không được phép của người có thẩm quyền;
đ) Không bàn giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi thôi việc, chuyển công tác, nghỉ hưu, không được phân công tiếp tục quản lý bí mật nhà nước;
e) Sử dụng bí mật nhà nước không đúng mục đích;
g) Xác định bí mật nhà nước đối với tài liệu không chứa nội dung bí mật nhà nước, đóng dấu chỉ độ mật lên tài liệu không chứa nội dung bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật;
h) Xác định sai độ mật theo quy định của pháp luật;
i) Không xác định, đóng dấu chỉ độ mật bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Thu thập bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật;
b) Không thực hiện biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả khi để xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước;
c) Không thông báo với cơ quan, người có thẩm quyền khi xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước;
d) Không loại bỏ bí mật nhà nước khi chuyển mục đích sử dụng máy tính, thiết bị khác đã dùng để soạn thảo, lưu giữ, trao đổi bí mật nhà nước;
đ) Tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật.
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị khác đã kết nối hoặc đang kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông không đúng quy định của pháp luật;
b) Sử dụng thiết bị có tính năng thu, phát tín hiệu, ghi âm, ghi hình hoặc hình thức khác trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước mà không được phép của người có thẩm quyền;
c) Làm sai lệch, hư hỏng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước;
d) Cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật;
đ) Vào địa điểm lưu giữ, bảo quản bí mật nhà nước hoặc quay phim, chụp ảnh, vẽ sơ đồ địa điểm lưu giữ, bảo quản bí mật nhà nước mà không được phép của người có thẩm quyền.”
Đối với những hành vi vượt quá thẩm quyền xử phạt, Công an cấp xã có trách nhiệm lập biên bản, thu thập tài liệu, chứng cứ và chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
Việc quy định rõ thẩm quyền này tạo cơ sở pháp lý để Công an cấp xã chủ động xử lý ngay từ đầu đối với các hành vi vi phạm xảy ra trên địa bàn, hạn chế tình trạng phải chuyển cấp đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xử lý tại cơ sở, qua đó rút ngắn thời gian giải quyết, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Chủ động phòng ngừa từ cơ sở
Bên cạnh xử lý vi phạm, Công an cấp xã còn thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước tại địa bàn. Việc phát hiện sớm những sơ hở trong quản lý, sử dụng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh hoặc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm sẽ góp phần ngăn ngừa nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước ngay từ khi mới phát sinh.
Thời gian tới, Công an các xã, phường, đặc khu cần tiếp tục quán triệt, nắm vững các quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 282/2025/NĐ-CP; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân; đồng thời nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, phát hiện, lập hồ sơ và xử lý vi phạm đúng trình tự, thẩm quyền.
Việc giao thẩm quyền xử phạt cho Trưởng Công an cấp xã không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn phát huy vai trò của lực lượng Công an cơ sở trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Qua đó, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân; giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm an toàn bí mật nhà nước trong tình hình mới.
Bùi Linh






