Tăng cường xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, có hiệu lực từ ngày 18/5/2026
Ngày 01/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Đây là văn bản quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Một số điểm mới đáng chú ý:
1. Quy định toàn diện các lĩnh vực xử phạt
Nghị định quy định xử phạt trong nhiều lĩnh vực, bao gồm: bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng, giám định tư pháp, đấu giá tài sản); hành chính tư pháp (hộ tịch, quốc tịch, nuôi con nuôi); hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
2. Mức xử phạt cao, tăng tính răn đe
Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân theo từng nhóm lĩnh vực, cụ thể:
Đến 50.000.000 đồng đối với lĩnh vực bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, giám định tư pháp…);
Đến 40.000.000 đồng đối với lĩnh vực thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã;
Đến 30.000.000 đồng đối với lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình.
Đối với tổ chức vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt đối với cá nhân theo quy định của pháp luật.
3. Quy định cụ thể hành vi vi phạm trong từng lĩnh vực
Nghị định quy định chi tiết, cụ thể các hành vi vi phạm trong từng lĩnh vực, nổi bật như:
Trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp: hành nghề luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, giám định tư pháp không đúng quy định; cung cấp dịch vụ khi không đủ điều kiện hành nghề; vi phạm quy tắc nghề nghiệp; giả mạo hồ sơ, tài liệu hoặc thông tin trong quá trình hành nghề; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ, chứng chỉ hành nghề.
Trong lĩnh vực hành chính tư pháp: đăng ký hộ tịch không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; đăng ký kết hôn, khai sinh, khai tử, nhận con nuôi trái quy định; làm sai lệch thông tin hộ tịch; cấp giấy tờ không đúng quy định.
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình: vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi; cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân và gia đình; vi phạm các quy định về bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ em.
Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, phá sản: không chấp hành quyết định thi hành án; cản trở việc thi hành án; tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ; vi phạm quy định về trình tự, thủ tục thi hành án, phá sản.
Trong hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tư pháp: không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ báo cáo, cung cấp thông tin; không kiểm soát, xác minh thông tin khách hàng theo quy định; che giấu, hợp thức hóa nguồn gốc tài sản trái pháp luật.
4. Bổ sung nhiều hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài hình thức phạt tiền, Nghị định quy định cụ thể các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả nhằm xử lý toàn diện hành vi vi phạm, bao gồm:
Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời hạn nhất định đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, giám định tư pháp;
Đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hành nghề vi phạm quy định, không bảo đảm điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật;
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm như hồ sơ, tài liệu, giấy tờ giả mạo, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm;
Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi vi phạm gây ra, ví dụ: hủy bỏ giấy tờ, kết quả đăng ký không đúng quy định, khắc phục sai sót trong hồ sơ hộ tịch;
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do vi phạm, bảo đảm không để đối tượng vi phạm hưởng lợi từ hành vi trái pháp luật.
Việc quy định đầy đủ các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả giúp xử lý không chỉ dừng ở việc phạt tiền mà còn ngăn chặn, khắc phục triệt để hậu quả vi phạm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tính răn đe của pháp luật.
5. Tăng cường kiểm soát các lĩnh vực nhạy cảm
Nghị định tập trung siết chặt quản lý đối với các lĩnh vực có nguy cơ vi phạm cao, phát sinh nhiều sai phạm trong thực tiễn, cụ thể:
Trong lĩnh vực công chứng, chứng thực: xử lý nghiêm các hành vi công chứng, chứng thực không đúng thẩm quyền, không kiểm tra đầy đủ tính hợp pháp của hồ sơ, giấy tờ; xác nhận giao dịch không đúng thực tế; tiếp tay cho việc hợp thức hóa hồ sơ, tài liệu giả;
Trong lĩnh vực đấu giá tài sản: tăng cường kiểm soát các hành vi thông đồng, dìm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá; vi phạm quy trình, thủ tục tổ chức đấu giá; thiếu minh bạch trong lựa chọn người trúng đấu giá;
Trong hoạt động luật sư: xử lý các hành vi hành nghề không đúng quy định, cung cấp dịch vụ pháp lý khi không đủ điều kiện; vi phạm quy tắc đạo đức, nghề nghiệp; lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để trục lợi hoặc gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
Trong lĩnh vực thi hành án dân sự: xử lý nghiêm các hành vi không chấp hành quyết định thi hành án; cản trở việc thi hành án; tẩu tán, che giấu tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ; vi phạm trình tự, thủ tục thi hành án;
Trong hoạt động phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tư pháp: tăng cường kiểm soát nghĩa vụ báo cáo, cung cấp thông tin; xử lý hành vi không xác minh, kiểm soát thông tin khách hàng; che giấu, hợp thức hóa nguồn gốc tài sản bất hợp pháp thông qua các giao dịch dân sự, tư pháp.
Việc siết chặt quản lý các lĩnh vực nhạy cảm này nhằm phòng ngừa vi phạm từ sớm, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi sai phạm, bảo đảm tính minh bạch, công khai và đúng pháp luật trong hoạt động tư pháp.
6. Quy định rõ nguyên tắc và thẩm quyền xử phạt
Nghị định quy định cụ thể các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong đó nhấn mạnh: mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện, xử lý kịp thời, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục; bảo đảm công bằng, khách quan, minh bạch; một hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt một lần; việc áp dụng hình thức xử phạt, mức phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định rõ thẩm quyền xử phạt của từng chức danh, từng cấp như Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Chánh Thanh tra, người có thẩm quyền trong các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành… bảo đảm phù hợp với phạm vi quản lý và mức phạt được giao; đồng thời xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình phát hiện, lập biên bản, xử lý vi phạm, tránh chồng chéo hoặc bỏ sót.
Đối với lực lượng Công an nhân dân, Nghị định là cơ sở để chủ động nắm tình hình, phát hiện các hành vi vi phạm có liên quan đến an ninh, trật tự; kịp thời lập biên bản, xử lý hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính.
Để nắm rõ quy định, đề nghị truy cập và nghiên cứu toàn văn Nghị định tại đây.
Minh Lý






