Xử lý vi phạm hành chính về Bảo vệ bí mật nhà nước theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP
Bảo vệ bí mật nhà nước là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Giai đoạn hiện nay, khi chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc quản lý và lưu hành thông tin mật ngày càng đối mặt với nhiều nguy cơ mới, tinh vi hơn, đặc biệt từ môi trường mạng và các thiết bị số. Trước yêu cầu thực tiễn đó, ngày 30/10/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình; trong đó có một điều quan trọng quy định về xử lý vi phạm hành chính trong bảo vệ bí mật nhà nước. Quy định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2025, thay thế nhóm hành vi tương ứng trước đây tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, tạo bước chuyển mới, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong tình hình mới.
Trên cơ sở kế thừa, phát huy những nội dung quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ bí mật nhà nước tại Điều 19 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP tiếp tục nêu rõ 04 nhóm hành vi sẽ bị xử lý hành chính về bảo vệ bí mật nhà nước tại Điều 22, cụ thể:
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Không ban hành quy chế, nội quy bảo vệ bí mật nhà nước trong cơ quan, tổ chức, địa phương theo quy định của pháp luật;
b) Sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, giao, nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật;
c) Không thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật;
d) Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác mà không được phép của người có thẩm quyền;
đ) Không bàn giao tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi thôi việc, chuyển công tác, nghỉ hưu, không được phân công tiếp tục quản lý bí mật nhà nước;
e) Sử dụng bí mật nhà nước không đúng mục đích;
g) Xác định bí mật nhà nước đối với tài liệu không chứa nội dung bí mật nhà nước, đóng dấu chỉ độ mật lên tài liệu không chứa nội dung bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật;
h) Xác định sai độ mật theo quy định của pháp luật;
i) Không xác định, đóng dấu chỉ độ mật bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Thu thập bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật;
b) Không thực hiện biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả khi để xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước;
c) Không thông báo với cơ quan, người có thẩm quyền khi xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước;
d) Không loại bỏ bí mật nhà nước khi chuyển mục đích sử dụng máy tính, thiết bị khác đã dùng để soạn thảo, lưu giữ, trao đổi bí mật nhà nước;
đ) Tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật.
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị khác đã kết nối hoặc đang kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông không đúng quy định của pháp luật;
b) Sử dụng thiết bị có tính năng thu, phát tín hiệu, ghi âm, ghi hình hoặc hình thức khác trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước mà không được phép của người có thẩm quyền;
c) Làm sai lệch, hư hỏng tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước;
d) Cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước không đúng quy định của pháp luật;
đ) Vào địa điểm lưu giữ, bảo quản bí mật nhà nước hoặc quay phim, chụp ảnh, vẽ sơ đồ địa điểm lưu giữ, bảo quản bí mật nhà nước mà không được phép của người có thẩm quyền.
4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet, mạng máy tính và mạng viễn thông không đúng quy định của pháp luật;
b) Truyền đưa bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin, viễn thông không đúng quy định của pháp luật.
Ngoài hình thức xử phạt chính theo từng khung nêu trên, người vi phạm có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm b và đ khoản 3.
Các biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc nộp lại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, d, đ và e khoản 1; điểm a khoản 2; điểm d khoản 3;
b) Buộc thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 1;
c) Buộc gỡ bỏ tài liệu bí mật nhà nước đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3, khoản 4;
d) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 3.
Hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ bí mật nhà nước được quy định bao quát từ khâu xác định bí mật nhà nước, phát hành, chuyển giao đến việc lưu trữ, cung cấp bí mật nhà nước; bao quát cả những hành vi xảy ra trong quá trình quản lý, lưu hành tài liệu giấy đến phát hành, truyền đưa tài liệu điện tử trên không gian mạng và trong môi trường số. Đặc biệt, những hành vi như đăng tải, truyền đưa, phát tán thông tin bí mật nhà nước trên mạng Internet, mạng máy tính và mạng viễn thông được nhận diện và xử phạt nghiêm khắc. Đây là quy định cần thiết, xuất phát từ thực tiễn tổng kết các vụ lộ, mất bí mật nhà nước gần đây đa phần xuất phát từ thiết bị di động, email, mạng xã hội, mạng Internet. Việc quy định chế tài thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước: bảo vệ bí mật nhà nước là nhiệm vụ cốt lõi, mọi hành vi vi phạm dù vô ý hay cố ý đều phải được xử lý nghiêm theo đúng pháp luật.
Bên cạnh trách nhiệm cá nhân, Nghị định cũng nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và người đứng đầu trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước nhằm tạo động lực, buộc các cơ quan phải chủ động rà soát quy trình, nâng cao năng lực quản lý và tăng cường kiểm tra nội bộ nhằm phòng ngừa từ sớm, từ xa, không để xảy ra vi phạm, thiếu sót trong bảo vệ bí mật nhà nước.
Có thể thấy, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP vừa bảo đảm tính phù hợp với Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật An ninh mạng, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với công tác giữ gìn bí mật nhà nước trong môi trường số. Việc xác định hành vi, quy định mức xử phạt theo từng khung cụ thể và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường tính răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm, thúc đẩy các cơ quan, đơn vị siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng quy trình bảo mật, ứng dụng công nghệ gắn với biện pháp an toàn thông tin để bảo vệ bí mật nhà nước trong mọi tình huống. Đồng thời, có ý nghĩa rất lớn đối với công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong tình hình mới, không chỉ tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để xử lý vi phạm mà còn giúp mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức nâng cao nhận thức, trách nhiệm và chủ động phòng ngừa, qua đó góp phần giữ vững an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong thời kỳ chuyển đổi số.
Bùi Linh






