Skip to main content

Chuyên đề Kỹ năng, nghiệp vụ pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

‎Kỳ 2: Kỹ năng xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

    1. Mở đầu
    Trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính, bên cạnh việc xác định đúng hành vi vi phạm thì xác định đúng thẩm quyền xử phạt là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định tính hợp pháp của toàn bộ quá trình xử lý vụ việc. Việc xử phạt đúng thẩm quyền không chỉ bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước mà còn góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, hạn chế phát sinh khiếu nại, khiếu kiện trong thực tiễn.
    Đối với lực lượng Công an nhân dân, nhất là Công an cấp xã và các lực lượng trực tiếp thực thi công vụ, việc xác định thẩm quyền xử phạt thường xuyên phát sinh trong quá trình tiếp nhận, kiểm tra, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm hành chính trên nhiều lĩnh vực như an ninh, trật tự, giao thông, cư trú, phòng cháy chữa cháy, môi trường, an ninh mạng…
    Thực tiễn cho thấy, vẫn còn xảy ra một số trường hợp xử phạt vượt thẩm quyền, áp dụng không đúng hình thức xử phạt hoặc không chuyển hồ sơ vụ việc vượt thẩm quyền theo quy định, dẫn đến quyết định xử phạt bị hủy, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác và uy tín của lực lượng thực thi công vụ. Vì vậy, nâng cao kỹ năng xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là yêu cầu cần thiết đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
    2. Quy định pháp luật về thẩm quyền, xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
    Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là phạm vi quyền hạn do pháp luật quy định cho người có thẩm quyền được áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và thực hiện các hoạt động xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm.
    Theo Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025), việc xác định thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào: Chức danh của người có thẩm quyền; hình thức, mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả; giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan đến từng hành vi vi phạm.
    Luật cũng quy định thẩm quyền xử phạt của một chức danh là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính; trong trường hợp phạt tiền thì thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức bằng 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân. 
    Đồng thời, thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể. Điều này có nghĩa, khi xác định thẩm quyền xử phạt không căn cứ vào mức tiền phạt dự kiến áp dụng trong vụ việc cụ thể mà phải căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi vi phạm theo quy định của nghị định quy định xử phạt trong từng lĩnh vực cụ thể.
    Ví dụ: Hành vi vi phạm có khung tiền phạt từ 4 triệu đồng đến 6 triệu đồng thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo mức tối đa của khung là 6 triệu đồng, dù thực tế người vi phạm có thể chỉ bị áp dụng mức phạt thấp hơn.
    Tại khoản 3 Điều 7 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP quy định việc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm xem xét, xử lý hành vi vi phạm hành chính. Quy định này có nghĩa khi xem xét ban hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền phải đối chiếu quy định pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm xử lý để xác định đúng thẩm quyền.
    Ví dụ: Hành vi vi phạm xảy ra vào thời điểm nghị định cũ còn hiệu lực, tuy nhiên đến thời điểm lập hồ sơ, ban hành quyết định xử phạt thì nghị định mới đã có hiệu lực và có thay đổi về thẩm quyền xử phạt hoặc mức tiền phạt. Khi đó, cán bộ xử lý phải nghiên cứu quy định chuyển tiếp và xác định thẩm quyền theo văn bản pháp luật có hiệu lực tại thời điểm xem xét, xử lý vụ việc theo đúng quy định.
    Tại Điều 4 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP cũng quy định cụ thể việc chuyển vụ việc đến người có thẩm quyền xử phạt trong trường hợp vượt thẩm quyền. Theo đó, nếu người đang thụ lý, giải quyết vụ việc không có thẩm quyền xử phạt thì phải kịp thời chuyển hồ sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt theo quy định; không được tự ý xử phạt vượt thẩm quyền.
    Đối với vụ việc do cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương đang thụ lý nhưng vượt quá thẩm quyền thì việc chuyển hồ sơ được thực hiện theo thứ tự:
    Chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong hệ thống ngành dọc tại địa phương;
    Trường hợp vẫn vượt thẩm quyền thì chuyển cho người có thẩm quyền cao nhất trong ngành, lĩnh vực quản lý hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền nơi xảy ra vi phạm.
    Đối với một số vụ việc có nhiều hành vi thuộc nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước hoặc có tang vật, phương tiện đặc thù như bất động sản, tàu bay, tàu biển, hàng hóa cồng kềnh, khó vận chuyển..., pháp luật quy định thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền nơi xảy ra vi phạm
    Ngoài ra, đối với trường hợp áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng cấm tàng trữ, cấm lưu hành thì việc xác định thẩm quyền xử phạt được thực hiện theo nguyên tắc:
    Chuyển cho người có thẩm quyền tịch thu trong ngành, lĩnh vực quản lý nếu pháp luật quy định thẩm quyền tịch thu không phụ thuộc giá trị tang vật;
    Trường hợp không thuộc ngành, lĩnh vực có thẩm quyền tịch thu thì chuyển cho Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền nơi xảy ra vi phạm;
    Nếu xác định được giá trị tang vật, phương tiện vi phạm thì xác định thẩm quyền theo nghị định xử phạt chuyên ngành tương ứng.
    Các quy định về xác định thẩm quyền và chuyển vụ việc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng căn cứ pháp luật, tránh ban hành quyết định xử phạt trái pháp luật hoặc xử lý vượt thẩm quyền trong thực tiễn công tác.
    3. Kỹ năng xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
    Để xác định đúng thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cán bộ thực thi công vụ cần thực hiện một số kỹ năng cơ bản sau:
    Thứ nhất, xác định chính xác hành vi vi phạm hành chính xảy ra trên thực tế
    Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất vì thẩm quyền xử phạt được xác định theo từng hành vi vi phạm cụ thể. Cán bộ xử lý phải làm rõ: hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước nào; cá nhân hay tổ chức thực hiện hành vi vi phạm; có bao nhiêu hành vi vi phạm xảy ra; tính chất, mức độ của từng hành vi.
    Ví dụ: Người điều khiển xe ô tô vừa vi phạm nồng độ cồn vừa không chấp hành hiệu lệnh kiểm tra của lực lượng chức năng. Khi đó phải xác định đây là vụ việc có nhiều hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ để làm căn cứ xác định thẩm quyền xử phạt.
    Thứ hai, đối chiếu đúng nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tương ứng
    Sau khi xác định được hành vi vi phạm, cán bộ xử lý phải đối chiếu đúng nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước liên quan để xác định: hành vi vi phạm cụ thể; khung tiền phạt; hình thức xử phạt bổ sung; biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền xử phạt của từng chức danh.
    Trong thực tiễn, một số hành vi có dấu hiệu tương tự nhau nhưng thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau nên nếu đối chiếu sai nghị định xử phạt sẽ dẫn đến xác định sai thẩm quyền.
    Thứ ba, xác định thẩm quyền căn cứ mức tối đa của khung tiền phạt
    Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi vi phạm, không căn cứ vào mức phạt dự kiến áp dụng thực tế.
    Ví dụ: Hành vi vi phạm có khung tiền phạt từ 4 triệu đồng đến 6 triệu đồng thì phải xác định thẩm quyền theo mức tối đa là 6 triệu đồng, dù thực tế người vi phạm có thể chỉ bị phạt 5 triệu đồng.
    Đây là nội dung rất dễ nhầm lẫn trong thực tiễn. Một số trường hợp cán bộ xử lý căn cứ vào mức phạt dự kiến để xác định thẩm quyền dẫn đến ban hành quyết định xử phạt vượt thẩm quyền.
    Thứ tư, xác định đúng đối tượng vi phạm là cá nhân hay tổ chức
    Pháp luật quy định thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức bằng 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân. Vì vậy, khi xác định thẩm quyền cần làm rõ chủ thể vi phạm là cá nhân hay tổ chức.
    Ví dụ: Cùng một hành vi vi phạm nhưng nếu do doanh nghiệp thực hiện thì mức xử phạt có thể gấp đôi cá nhân, từ đó dẫn đến thay đổi thẩm quyền xử phạt của người có thẩm quyền.
    Thứ năm, xem xét đầy đủ hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
    Ngoài hình thức phạt tiền, nhiều hành vi vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả, như: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; buộc khôi phục tình trạng ban đầu; buộc tháo dỡ công trình vi phạm; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp...
    Do đó, việc xác định thẩm quyền không chỉ căn cứ mức tiền phạt mà còn phải căn cứ hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng trong vụ việc cụ thể.
    Thứ sáu, xác định vụ việc vượt thẩm quyền để kịp thời chuyển hồ sơ
    Trong quá trình giải quyết vụ việc, nếu phát hiện hành vi vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của mình thì cán bộ đang thụ lý phải kịp thời chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền theo quy định; không tự ý xử phạt vượt thẩm quyền.
    Đối với các vụ việc có nhiều hành vi vi phạm, liên quan nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, có tang vật, phương tiện đặc thù hoặc có dấu hiệu tội phạm thì cần đặc biệt thận trọng trong việc xác định thẩm quyền xử lý.
    Ví dụ: Trong quá trình kiểm tra cơ sở kinh doanh, lực lượng chức năng phát hiện hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu với số lượng lớn có dấu hiệu tội phạm. Khi đó, cán bộ xử lý phải đánh giá kỹ tính chất, mức độ vụ việc; trường hợp có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự theo quy định, không tiếp tục xử phạt hành chính.
    4. Những sai sót thường gặp trong xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
    Trong thực tiễn công tác xử phạt vi phạm hành chính, việc xác định thẩm quyền xử phạt vẫn còn xảy ra một số sai sót, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả xử lý vụ việc dẫn đến ban hành quyết định xử phạt vượt quá thẩm quyền theo quy định, cụ thể: xác định không đúng, không đầy đủ hành vi vi phạm hành chính xảy ra trong vụ việc; áp dụng sai nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính; xác định sai lĩnh vực quản lý nhà nước đối với hành vi vi phạm; xác định sai chủ thể vi phạm là cá nhân hoặc tổ chức; không xác định hoặc xác định không đúng giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xác định thẩm quyền;…
    Bên cạnh đó, một số cán bộ thực thi công vụ còn nhầm lẫn trong việc xác định thẩm quyền phạt tiền, căn cứ vào mức phạt dự kiến áp dụng trong vụ việc cụ thể thay vì căn cứ mức tối đa của khung tiền phạt theo quy định của nghị định xử phạt vi phạm hành chính. 
    Một hạn chế thường gặp khác là chưa xem xét đầy đủ hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả khi xác định thẩm quyền xử phạt. Trong thực tế, có trường hợp người xử lý chỉ căn cứ mức tiền phạt mà chưa đối chiếu thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vượt quá thẩm quyền của mình.
    Ngoài ra, đối với các vụ việc có nhiều hành vi vi phạm thuộc nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, có tang vật, phương tiện đặc thù hoặc có dấu hiệu tội phạm thì việc xác định thẩm quyền xử phạt trong thực tiễn đôi khi còn lúng túng, thiếu thống nhất. Một số trường hợp chưa kịp thời chuyển hồ sơ vụ việc vượt thẩm quyền hoặc chưa phân biệt rõ giữa xử lý vi phạm hành chính với chuyển xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.
    Bên cạnh đó, việc chậm cập nhật các quy định pháp luật mới, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực hoặc chưa nghiên cứu đầy đủ quy định chuyển tiếp của các nghị định xử phạt cũng là nguyên nhân dẫn đến xác định sai thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong một số vụ việc.
    Những sai sót, tồn tại nêu trên có thể dẫn đến hậu quả như quyết định xử phạt bị khiếu nại, hủy bỏ, phải sửa đổi hồ sơ xử lý, kéo dài thời gian giải quyết vụ việc hoặc ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và uy tín của lực lượng thực thi công vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Ngoài ra, xử phạt vi phạm hành chính không đúng thẩm quyền còn bị xem xét kỷ luật theo quy định.
    5. Giải pháp, yêu cầu đặt ra
    Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời gian tới, lực lượng trực tiếp thực thi công vụ cần tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng áp dụng pháp luật và tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Mỗi cán bộ xử lý vi phạm hành chính phải chủ động nghiên cứu, cập nhật kịp thời các quy định mới của pháp luật, nhất là Luật Xử lý vi phạm hành chính, các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trên từng lĩnh vực quản lý nhà nước và các văn bản hướng dẫn liên quan nhằm bảo đảm việc xác định thẩm quyền xử phạt đúng căn cứ pháp luật, chính xác và thống nhất.
    Trong quá trình giải quyết vụ việc, cần thực hiện đầy đủ việc kiểm tra, đối chiếu quy định pháp luật để xác định chính xác hành vi vi phạm, lĩnh vực quản lý nhà nước, chủ thể vi phạm, khung tiền phạt, hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả và các tình tiết liên quan trước khi xác định người có thẩm quyền xử phạt. Đối với các vụ việc có nhiều hành vi vi phạm, nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, có tang vật, phương tiện đặc thù hoặc có dấu hiệu tội phạm thì cán bộ xử lý phải đặc biệt thận trọng trong việc xác định thẩm quyền, kịp thời chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền hoặc cơ quan tiến hành tố tụng hình sự theo đúng quy định pháp luật.
    Bên cạnh đó, các đơn vị nghiệp vụ cần tăng cường tổ chức tập huấn, hướng dẫn chuyên sâu, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn về kỹ năng xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn công tác, nhất là đối với các vụ việc phức tạp, liên ngành hoặc các hành vi vi phạm phát sinh trên môi trường mạng, lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng và các lĩnh vực chuyên ngành mới.
    Việc xác định đúng thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ góp phần bảo đảm xử lý đúng người, đúng hành vi, đúng quy định pháp luật mà còn hạn chế tình trạng xử phạt vượt thẩm quyền, bảo đảm tính hợp pháp của quyết định xử phạt, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và xây dựng hình ảnh lực lượng Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Kỳ 3: Kỹ năng lập biên bản vi phạm hành chính

Minh Lý