Skip to main content

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Nhà lãnh đạo mẫu mực - Người Cộng sản kiên trung

‎Trong dòng chảy lịch sử của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn bảy thập kỷ hoạt động cách mạng, cuộc đời của Chủ tịch Tôn Đức Thắng là biểu tượng sinh động của lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng cộng sản đức tính khiêm nhường, giản dị để lại nhiều di sản vô cùng quý báu cho toàn Đảng, toàn dân ta.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20/8/1888, trong một gia đình nông dân tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, phường Long Xuyên, tỉnh An Giang. Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm, đồng chí Tôn Đức Thắng sớm chứng kiến cảnh đất nước bị thực dân đô hộ và cuộc sống cơ cực của người lao động. 

Năm 1906, sau khi tốt nghiệp Sơ cấp tiểu học Đông Dương tại Long Xuyên, đồng chí rời quê lên Sài Gòn học nghề thợ máy tại Trường Cơ khí Á Châu - còn gọi là Trường Bá Nghệ. Tốt nghiệp hạng ưu, đồng chí được nhận vào làm công nhân ở Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp tại Sài Gòn. Những năm tháng làm việc tại xưởng Ba Son đã giúp Tôn Đức Thắng thấu hiểu giá trị của đoàn kết giai cấp và hun đúc ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. 

Năm 1912, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tham gia tổ chức cuộc bãi công tại Nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son để đòi quyền lợi cho công nhân nên bị sa thải. Sau đó, đồng chí sang Pháp làm công nhân ở Toulon (Pháp) và bị trưng dụng làm lính thợ cho một đơn vị Hải quân Pháp.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Nhà lãnh đạo mẫu mực - Người Cộng sản kiên trung.



Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp, đồng chí đã tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tham gia cuộc binh biến của binh sĩ Pháp ở Hắc Hải (20/4/1919).

Năm 1920, trở về Sài Gòn, đồng chí đã lập Công hội bí mật ở Sài Gòn, đây là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Tôn Đức Thắng, tổ chức Công hội đã lãnh đạo phong trào bãi công sôi nổi của thủy thủ và công nhân Nam Bộ, tiêu biểu nhất là cuộc bãi công của công nhân hãng Ba Son tháng 8/1925, đánh dấu trình độ giác ngộ công nhân, trình độ tổ chức, ý thức đoàn kết, kỷ luật của giai cấp công nhân Việt Nam đã phát triển lên một bước mới.

Trong những năm 1926 - 1927, Công hội Sài Gòn là cơ sở vững chắc cho sự hình thành và phát triển tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, không chỉ ở Sài Gòn mà trên cả xứ Nam Kỳ. Khi Kỳ bộ Nam Kỳ thành lập, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ, Bí thư Thành bộ Sài Gòn, phụ trách phong trào công nhân.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sự hoạt động tích cực của Công hội do đồng chí Tôn Đức Thắng sáng lập đã bắc nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác - Lênin đến với giai cấp công nhân. Chính sứ mệnh đó, đồng chí Tôn Đức Thắng không chỉ là chiến sĩ tiên phong của phong trào công nhân, một trong những người sáng lập tổ chức công đoàn của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn “là một trong các chiến sĩ lớp đầu của phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta”.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam, trong đó gần 17 năm bị đày tại nhà tù Côn Đảo là quãng thời gian đầy thử thách. Song, nhà tù khắc nghiệt không khuất phục được ý chí của người chiến sĩ cộng sản. Ngược lại, đồng chí cùng các đồng chí biến nơi giam cầm thành "trường học cách mạng", giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Bản lĩnh chính trị kiên định, lòng son sắt với Đảng và Nhân dân đã làm nên phẩm chất đặc biệt của người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước. Dù ở cương vị nào, từ Lãnh đạo Công hội đỏ hay Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí đều để lại dấu ấn bằng sự tận tụy, công tâm, là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng của người chiến sĩ cộng sản.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, Quốc hội bầu đồng chí Tôn Đức Thắng giữ cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục được Quốc hội tín nhiệm bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước sau chiến tranh với muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Tôn Đức Thắng luôn nhấn mạnh yêu cầu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của Nhân dân trong công cuộc khôi phục kinh tế, ổn định đời sống và xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Điều làm nên giá trị bền vững của Chủ tịch Tôn Đức Thắng không chỉ là những cương vị cao nhất mà đồng chí từng đảm nhiệm, mà còn ở nhân cách lớn của một nhà lãnh đạo suốt đời giữ lối sống thanh bạch, giản dị, gần gũi và chân thành. Chủ tịch luôn coi mình là người phục vụ Nhân dân, không màng danh lợi, giữ gìn sự liêm khiết và nêu gương trong mọi việc. Hơn bốn thập kỷ sau ngày Chủ tịch Tôn Đức Thắng đi xa, tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí vẫn là niềm tự hào của quê hương An Giang và của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của Chủ tịch Tôn Đức Thắng là minh chứng cho sức mạnh của lòng yêu nước gắn liền với lý tưởng cách mạng, của bản lĩnh kiên trung trước mọi thử thách và của đạo đức cách mạng trong sáng.

Kỷ niệm 138 năm ngày sinh của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Công an An Giang luôn khắc ghi và học tập theo tấm gương Chủ tịch Tôn Đức Thắng bằng những việc làm ý nghĩa, thiết thực. Đó là tinh thần phụng sự Tổ quốc, phụng sự Nhân dân, lối sống liêm chính, khiêm nhường và khát vọng cống hiến vì lợi ích chung. Những giá trị quý báu ấy vẫn luôn là nguồn động lực để các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an An Giang hôm nay tiếp tục xây dựng quê hương Bác Tôn ngày càng giàu đẹp và phát triển bền vững.

Như Huỳnh